Xin bạn cho biết

Theo bạn, để tìm lời giải cho một bài toán thì bước nào là quan trọng nhất?
B1: Tìm hiểu kỹ đề toán.
B2: Xây dựng lời giải.
B3: Trình bày lời giải.
B4: Thử lại kết quả và trả lời.
Các bước quan trọng như nhau.

Xin cảm ơn và cảm ơn

2 khách và 0 thành viên

Trung tâm Tài nguyên

Thống kê mới nhứt

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh đẹp ngẫu nhiên

    Movie_0003.flv Hien_hat.mp3 20140905_090221.jpg 20140329_165912.jpg 2632014.png DSCF0058.jpg DSCF02651.jpg Images5.jpg Diendanhaiduongcom19072_1.jpg DAI_TUONG_NHA_DAN.swf DSCN0541.jpg DSCN0471.jpg DSCN0208.jpg DSCN0469.jpg DSCN0477.jpg Mauchuvietbangchuhoadung.png Mauchuvietbangchuhoadung.png Chucmungnammoi2013_ngayxuanlongphuongxumvay.swf Bannertet2013.swf

    Sắp xếp dữ liệu

    Lắng nghe chia sẻ !

    • (Thành viên ALG)
    • (Nguyễn Chí Luyện)
    Gốc > Toán học - Ngụy biện Toán học >

    NGỤY BIỆN TOÁN HỌC - HỌC TỪ CÁI SAI

    Đúng????hay sai??? cùng vào xem nào??

    snag-1623_500_01

    Trong toán học, có nhiều chứng minh sai lầm mà người giải, mặc dầu đã kiểm soát kỹ càng, vẫn không khám phá ra và nghĩ là mình đã làm đúng. Những loại sai lầm nầy thường thường thuộc loại được gọi là “nguỵ biện toán học”. “Nguỵ biện” ở đây không có nghĩa thông thường là “cải bừa, cải cối”, “làm đại cho xong”, “làm sai”, mà chỉ đơn giản có nghĩa là “tưởng rằng đúng nhưng thực sự là sai”.

    Nguỵ biện toán học dẩn đến những kết quả vô lý nên thường được dùng trong nhiều bài toán vui để giải trí.

    Toán học có nhiều cái bẩy dễ dẩn đến nguỵ biện, như sau:

    1)   Chia một số cho zero.

    Chia một số cho 0 là một bài toán không xác định. Trong toán học chỉ có trường hợp khi mẫu số tiến tới 0 thì phân số tiến tới vô cực.
    Phần lớn mọi người  đều biết  điều cấm kỵ nầy, nhưng vẫn thường phạm sai lầm khi số chia hay mẫu số không phải là những con số mà là những biểu thức đại số.

    Một thí dụ thường được nhắc đến là “Chứng minh 1 = 2” , như sau:
    Xét 2 số a và b khác 0 và bằng nhau:    a  =   b
    Nhân 2 vế cho a:                    a2 = ab
    Trừ 2 vế cho b2:                     a2 – b2  =  ab – b2
    Đặt thừa số chung 2 vế:        (a + b)(a – b)  =  b(a – b)
    Chia 2 vế cho a – b:               a + b  =  b
    Cho a = b = 1:                       2  =  1

    Khi chia 2 vế cho a – b, ta đã phạm sai lầm vì a – b = 0

    2)   Ngụy biện trong hình học

    Loại nầy thường xảy ra khi chứng minh dựa trên một hình vẽ sai.
    Sau đây là 2 thí dụ:

    a)   Chứng minh “Mọi góc đều bằng 0”.

    Cho hình chữ nhật ABCD. Từ đỉnh C, vẽ đoạn CE = CD và góc DCE khác 0.
    Hai đường trung trực của AD tại F, và AE tại G, cắt nhau tại H. Nối H với A, B, C, D và E. FH là trung trực của AD nên cũng là trung trực của BC.

    Theo tính chất của đường trung trực, ta có:
    HA = HD,
    HB = HC,
    HA = HE
    =>  HD = HE
    Ba tam giác HAB, HDC, HEC  có các cạnh bằnh nhau từng đôi nên bằng nhau. Suy ra 3 góc tương ứng  ABH, DCH và ECH  bằng nhau.

    =>  Góc DCE = 0

    Chứng minh trên nguỵ biện vì lý luận trên một hình vẽ sai. Nếu vẽ đúng thì tam giác HCE phải đối xứng với tam giác HCD qua đường HC.

    b)  Chứng minh “Mọi tam giác đều là tam giác cân”.

    Xét tam giác ABC bất kỳ. Phân giác góc A và trung trực tại  của cạnh BC cắt nhau tại O. Vẽ OE thẳng góc với AB tại E và OF thẳng góc với AC tại F.
    Hai tam giác vuông AOE và AOF  bằng nhau vì có cùng cạnh huyền AO và 2 góc nhọn OAE và OAF bằng nhau.
    =>  AE = AF,  OE = OF
    Hai tam giác vuông OBE và OCF  bằng nhau vì có
    OE = OF,  OB = OC  =>  EB = FC
    Suy ra:  AB = AE + EB = AF + FC = AC

    =>  Tam giác ABC cân tại A

    Chứng minh trên nguỵ biện vì lý luận dựa trên một hình vẽ sai. Nếu vẽ đúng thì điểm O phải nằm ngoài tam giác ABC và nếu AB < AC thì điểm E nằm ngoài cạnh AB còn điểm F nằm trong cạnh AC.

    3)   Ngụy biện trong lý luận

    Định lý trong toán học thường được chứng minh bằng lý luận suy diễn hơn là quy nạp hay từ kinh nghiệm. Định lý phải đúng trong mọi trường hợp và có thể dùng để suy diễn đến những tính chất khác.
    Ở đây, chúng ta chỉ bàn đến một cách chứng minh rất dễ phạm phải nguỵ biện là phương pháp quy nạp (mathematical induction).

    Trong phương pháp quy nạp, từ một tính chất nền tảng được kiểm nghiệm lả đúng, phương pháp sử dụng quy luật về quy nạp để suy ra tính chất đó cũng đúng trong trường hợp tổng quát.

    Thí dụ:  Xét tính chất P(n) tuỳ thuộc số nguyên dương n. Muốn chứng minh tính chất P(n) đúng với mọi số n, phương pháp quy nạp chứng minh như sau:

    Nếu
    (i)   P(1) đúng, tức là tính chất P(n) đúng khi n = 1
    (ii)   P(n + 1) đúng khi P(n) đúng, tức là P(n) đúng
    => P(n+1) đúng

    thì tính chất P(n) đúng với mọi trị số của n.
    Nguỵ biện có thể xảy ra trong phần (i) hay trong phần (ii).

    Bài viết “Tất cả dân Úc đều cùng tuổi” trình bày một ngụy biện khi dùng phương pháp quy
    nạp.

    Gọi S(N) là một nhóm (hay tập hợp) bất kỳ gồm N người Úc. Ta sẽ chứng minh rằng, dù N thế nào, mọi người Úc trong nhóm S(N) đều có cùng tuổi. Ta tạm gọi tính chất nầy là tính chất A.

    1)     S(1) là nhóm gồm chỉ 1 người Úc, lẽ dỉ nhiên, cùng tuổi. Vậy, tính chất A đúng khi N = 1

    2)     Giả sử tính chất A đúng cho đến khi N = K, tức là mọi người Úc trong nhóm S(K) với K người Úc đều có cùng tuổi.

    3)     Thêm 1 người Úc bất kỳ vào nhóm S(K), ta có nhóm mới G(K+1) với K+1 người Úc. Ta phải chứng minh rằng tính chất A cũng đúng với nhóm G(K+1), tức là mọi người Úc trong nhóm G đều cùng tuổi.

    4)     Để chứng minh rằng mọi người Úc trong nhóm G đều cùng tuổi, ta có thể chứng minh rằng 2 người Úc bất kỳ P và Q nào đó trong nhóm G cũng đều cùng tuổi.
    Gọi R là 1 người Úc bất kỳ trong nhóm G, khác P và Q.

    5)     Xét tất cả những người Úc trong nhóm G, trừ Q. Những người nầy hợp thành một nhóm có K người Úc. Theo giả thiết 2 thì mọi người trong nhóm nầy đều có cùng tuổi. Vậy 2 người Úc P và R có cùng tuổi.

    6)     Xét tất cả những người Úc trong nhóm G, trừ P. Những người nầy hợp thành một nhóm có K người Úc. Theo giả thiết 2 thì mọi người trong nhóm nầy đều có cùng tuổi. Vậy 2 người Úc Q và R có cùng tuổi.

    7)     Trong nhóm G, vì P và Q đều cùng tuổi với R nên P và Q cũng cùng tuổi.

    8)     Hai người bất kỳ trong nhóm G đều cùng tuổi, vậy mọi người trong nhóm G đều cùng tuổi.

    9)     Thêm 1 người Úc vào một nhóm người Úc cùng tuổi, ta có một nhóm mới người Úc cũng cùng tuổi. Bằng cách tiếp tục thêm 1 người vào một nhóm người Úc cùng tuổi đã có sẵn cho đến khi toàn dân Úc đều được thêm vào, ta sẽ chứng minh được kết luận ‘Tất cả dân Úc đều cùng tuổi’!

    Lẽ dỉ nhiên kết luận trên sai và phải có một ngụy biện đâu đó trong phần chứng minh. Trước khi đọc tiếp, xin độc giả bỏ ra vài phút để tự mình tìm ra một lời giải thích cho riêng mình.

    Ngụy biện đã xảy ra trong đoạn 4: xét 2 người Úc bất kỳ P và Q trong nhóm G và R là 1 người Úc khác P và Q cũng trong nhóm G. Vậy là nhóm G phải có ít nhứt 3 người nhưng khi K = 1 thì nhóm G(K+1) chỉ có 2 người! Tìm đâu ra người thứ ba? Sai lầm về lý luận nầy khiến cho kết luận ‘Tất cả dân Úc đều cùng tuổi’ không đúng nữa!

    Tác giả mong rằng bài viết nầy giúp cho độc giả có được vài phút thư giản!


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Chí Luyện @ 08:56 07/08/2016
    Số lượt xem: 3437
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar

    Chứng minh 1 = 2.

    chỗ nào sai?

     
    Gửi ý kiến